Tư Vấn Xét Nghiệm Miễn Phí : 0909 000 966

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ TÌNH TRẠNG TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG VỀ MẶT TẾ BÀO HỌC Ở PHỤ NỮ MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN

samy nguyen

Moderator
Thành viên BQT
TÓM TẮT
Đại cương: Ung thư cổ tử cung (UTCTC) hiện đang là một trong những ung thư phổ biến nhất hiện nay. Bệnh đứng thứ 3 trên thế giới và thứ hai tại Việt Nam sau ung thư vú ở phụ nữ. Bệnh có tỉ lệ tử vong cao do thường phát hiện ở giai đoạn muộn và nguyên nhân chủ yếu là do nhiễm virus sinh u nhú ở người – HPV (Human papilloma virus). Tuy nhiên, nếu bệnh được phát hiện sớm thì sẽ giảm được gánh nặng bệnh tật và tỉ lệ tử vong. Do đó, nhu cầu sàng lọc bệnh trên diện rộng và có hệ thống được đặt ra. Rất nhiều nghiên cứu trong y văn đã chứng tỏ rằng xét nghiệm tế bào học với phương pháp nhuộm Papanicolaou có giá trị chẩn đoán cao với độ nhạy trên 95%. Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền và dễ thực hiện. Tại Việt Nam hiện nay, các chương trình sàng lọc đã có nhưng còn nhỏ lẻ chưa hệ thống. Do đó, đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu quy trình kỹ thuật và mô hình tổ chức sàng lọc phát hiện sớm một số bệnh ung thư thường gặp ở Việt Nam” nhằm hệ thống hóa và đánh giá trên diện rộng một số quy trình sàng lọc phát hiện sớm một số ung thư thường gặp, trong đó có ung thư cổ tử cung là một nhánh của đề tài.
Mục tiêu: Phát hiện tỉ lệ bất thường về tế bào học cổ tử cung trong phụ nữ ở cộng đồng và đánh giá một số yếu tố liên quan.
Kết quả nghiên cứu: Trong 3813/5000 phụ nữ khám được xét nghiệm tế bào học thì: Tỉ lệ phiến đồ có bất thường là 1995 ca (chiếm 54%). Trong số này, tỉ lệ phụ nữ bị viêm cổ tử cung chiếm số đông với 1925/1995 người (96,5%). Các tổn thương viêm khác như viêm do Trichomonas, viêm do nấm chiếm tỉ lệ nhỏ với 6/1995 người (0,3%) và 52/1995 người (2,6%). Dị sản vảy chiếm tỉ lệ đáng kể với 140/1995 người (7,0%). Tỉ lệ phát hiện nhiễm HPV trên tế bào thấp với 4/1995 trường hợp (chiếm 0,2%). Số lượng ca có tế bào vảy không điển hình có ý nghĩa không xác định (ASCUS) là 18/1995 người (0,9%). Số phụ nữ có tế bào tuyến không điển hình có ý nghĩa không xác định (AGUS) là 3/1995 trường hợp (chiếm 0,2%). Số phụ nữ có tổn thương tế bào vảy nội biểu mô độ thấp (LSIL) là 5/1995 trường hợp (chiếm 0,3%) và số phụ nữ có tổn thương tế bào vảy nội biểu mô độ cao (HSIL) là 4/1995 người (chiếm 0,2%). Sự khác biệt giữa cổ tử cung bình thường và tổn thương cổ tử cung với nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p<0,001 (p=0,0002). Nhìn chung, các tổn thương tế bào học bất thường chỉ gặp ở lứa tuổi từ 30 đến 59 tuổi. Ngoài ra, số lần mang thai và sinh đẻ càng nhiều thì khả năng có các bất thường tế bào cổ tử cung càng cao.
 

Facebook Comment

HTML

Top