Xét nghiệm |xét nghiệm máu | xét nghiệm hiv |

xét nghiệm, xét nghiệm máu, xét nghiệm hiv, máu, hiv, nước, sinh hoá, huyết học

Please login or register to view links

Lupus là một bệnh khá thường gặp. Tiến triển của bệnh khó có thể dự báo được do chưa có hiểu biết đầy đủ về căn bệnh này. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cơ chế chính của lupus bắt đầu hé mở nhờ vào sự phát triển của ngành miễn dịch học.
Xét nghiệm chính giúp chẩn đoán bệnh lupus là đo lượng kháng thể kháng nhân tế bào,trong số những kháng thể này kháng thể kháng DNA rất đặc hiệu cho bệnh lupus và hầu như không gặp trong các bệnh khác và điều khá lý thú là các kháng thể này không làm tổn hại hoặc suy thoái chức năng DNA của tế bào
Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (yếu tố kháng nhân FAN của tế bào): kỹ thuật này người ta dùng hồng cầu gà gắn lên lam kính, sau đó nhỏ chồng huyết thanh của bệnh nhân lên ủ 37 độ C trong 30 phút. sau đó rửa bằng nước lạnh để loại các kháng thể khác. Để khô lam và nhỏ huỳnh quang đặc hiệu( fluorescent) lên lam và soi dưới kính hiển vi quang học .Kỹ thuật này rất nhạy nhưng kém đặc hiệu vì ở một số người khỏe mạnh vẫn có kháng thể này cũng như ở các bệnh viêm khớp dạng thấp, các bệnh viêm mô liên kết khác như hội chứng Sjogren. Do đó nếu kết quả dương tính, bác sĩ sẽ làm thêm một số xét nghiệm đặc hiệu để khu trú bệnh một cách chính xác hơn như kháng thể kháng DNA hay kháng thể kháng EAN.
* Kháng thể kháng ADN:
DNA (chuỗi xoắn kép) là thành phần quan trọng nhất của nhân tế bào, trên đó có chứa mã di truyền, truyền thông tin di truyền từ cha mẹ sang con. người ta phát hiện trong huyết thanh...
HbA1C là dạng kết hợp của glucose với HbA1. Nó chiếm hơn 70% lượng hemoglobin được glycosyl hóa. Nồng độ HbA1C tương quan với nồng độ đường máu trong thời gian bệnh bùng phát (khoảng 6 - 8 tuần).

WHO đã định nghĩa: Bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là bệnh mà chắc chắn đường máu lúc đói lớn hơn 7,0 mmol/l (126 mg/dl), khi xét nghiệm đường máu hơn 2 lần hoặc định lượng đường máu ở bất kỳ thời điểm nào cũng lớn hơn 11 mmol/l.
Để xác định bệnh tiểu đường, người ta thường làm một số xét nghiệm sau:
Định lượng glucose máu
Bình thường: nồng độ glucose máu người khoẻ mạnh, lúc đói là: 4,4 - 6,1 mmol/l (0,8- 1,1 g/l).
Trước kia, định lượng đường máu theo phương pháp Folin-Wu là phương pháp định lượng không đặc hiệu dựa vào tính khử của đường cho nên khi trong máu bệnh nhân có các chất khử khác (ví dụ vitamin C) nó sẽ tạo nên kết quả cao hơn nồng độ đường thực có.
Hiện nay, định lượng đường máu đặc hiệu là phương pháp enzym-màu. Đó là phương pháp định lượng đường máu dựa trên phản ứng xúc tác của glucooxidase: oxy hóa glucose thành acid gluconic và peroxidhydrogen (H2O2). H2O2 tác dụng với 4-aminoantipyrine và phenol dưới xúc tác của peroxidase (POD) tạo thành chất có màu hồng là quinoneimine và nước. Đo mật độ quang của đỏ quinoneimine ở bước sóng 500nm sẽ tính được kết quả đường máu.
Bằng phường pháp enzym, kết quả đường máu chính xác hơn, không phụ thuộc vào các chất khử có trong máu như phương pháp kinh điển (Folin-Wu) nên kết quả thường thấp hơn một chút so với phương pháp Folin-Wu.
Phát hiện đường niệu và ceton niệu
Khi làm xét nghiệm 10 thông số nước tiểu, kết quả cho thấy:
Bình thường:
Glucose niệu (-).
Ceton niệu (-).
pH nước tiểu bình thường ở giới hạn từ 5- 8....
Virut HIV lây truyền qua đường tình dục

3. HIV lây qua quan hệ tình dục thế nào? Tại sao đồng tính luyến ái(*) dễ bị AIDS?

Please login or register to view links
(Ảnh minh họa)
Quan hệ tình dục ở đây ám chỉ là có sự giao hợp. Khi đó, HIV trong tinh dịch, chất nhờn âm đạo (**) sẽ xâm nhập qua niêm mạc và các vết sây sát li ti ở đường sinh dục nữ, bộ phận sinh dục nam... do động tác giao hợp gây ra.
Đồng tính luyến ái nam thường có nguy cơ nhiễm HIV cao là do đặc điểm thích quan hệ với nhiều bạn tình và giao hợp qua hậu môn là nơi dễ sây sát hơn.
(*) Quan hệ tình dục có hai loại : Dị tính luyến ái (Heterosexual) là quan hệ giữa hai người khác phái tức là nam với nữ, Đồng tính luyến ái (Homosexual) là quan hệ giữa hai người đồng phái : nam với nam (gay, pêđê), nữ với nữ (lesbian). Đa số nhân loại là Dị tính luyến ái , chỉ khoảng 1% là Đồng tính luyến ái mà thôi.
(**) Âm...
Ý nghĩa chỉ số xét nghiệm y học trong lâm sàng

Mặc dù α- amylase huyết tương có vai trò chẩn đoán xác định viêm tuỵ cấp, nhưng nó ít có liên quan đến độ nặng và tiên lượng của viêm tuỵ cấp.
α- Amylase
Huyết tương: 20 - 220 U/L.
Nước tiểu: < 1000 U/L.
α-Amylase có nhiều trong tuỵ ngoại tiết và tuyến nước bọt.
Hoạt độ α- amylase huyết tương, nước tiểu tăng trong viêm tuỵ cấp, viêm tuỵ mạn, chấn thương tuỵ, ung thư tuỵ, các chấn thương ổ bụng, viêm tuyến nước bọt (quai bị),...
Mặc dù α- amylase huyết tương có vai trò chẩn đoán xác định viêm tuỵ cấp, nhưng nó ít có liên quan đến độ nặng và tiên lượng của viêm tuỵ cấp.
Apo-AI
Nam: 104-202 mg/dL.
Nữ: 108-225mg/dL.
Nồng độ Apo-AI huyết tương giảm trong rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành.
Apo-B100
Nam: 66 - 133 mg/dL.
Nữ: 60-117mg/dL.
Nồng độ Apo-B100 huyết tương tăng , nguy cơ vữa xơ động mạch.
Tỷ số Apo-B
100/ Apo AI: < 1.
Tỷ số Apo- B tăng có nguy cơ vữa xơ động mạch.
Glucose
Huyết tương: 4,2-6,4 mmol/L.
Nước tiểu: âm tính.
Bình thường glucose huyết tương khi đói < 6,1 mmol/L, nếu mức độ glucose huyết tương khi đói ≥ 7,0 mmol/L trong ít nhất 2 lần xét nghiệm liên tiếp ở các ngày khác nhau thì bị đái tháo đường (diabetes mellitus).
Khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống OGTT (oral glucose tolerance test):
Nếu mức độ glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau thử nghiệm < 7,8 mmol/L là bình thường....
Hoa Kỳ xét nghiệm chất độc arsenic trong gạo


Please login or register to view links



Tin liên hệ

  • Please login or register to view links
  • Please login or register to view links
  • Please login or register to view links
  • Please login or register to view links...
Vài triệu chứng biểu hiện của ung thư cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư thường gặp ở nữ giới, và đây cũng là căn bệnh duy nhất tìm được nguyên nhân gây bệnh. Ung thư cổ tử cung là do virus u nhú (HPV) gây nên, virus HPV có thể lây lan qua tiếp xúc trực tiếp trên da, với thời gian ủ bệnh 10 năm, vì vậy giai đoạn đầu thường không có bất kì triệu chứng gì, Please login or register to view links có thể phòng ngừa, tầm soát thường xuyên có thể phòng tránh ung thư cổ tử cung hiệu quả.
Triệu chứng biểu hiện của ung thư cổ tử cung

[​IMG]

Kết hợp với xói mòn cổ tử cung: thông thường Please login or register to view links cổ tử cung thường bị xói mòn cổ tử cung, cổ tử cung bị xói mòn nghiêm trọng chính là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư.
Chảy máu khi quan hệ: chảy máu khi quan hệ là triệu chứng nổi bật nhất của bệnh ung thư cổ tử cung, có đến 70%-80% bệnh nhân ung thư có hiện tượng xuất huyết âm đạo. Các biểu hiện thương thấy như sau khi quan hệ xong hoặc kiểm tra phụ khoa, khí hư có lẫn máu
Xuất huyết âm đạo bất thường: đối với phụ nữ mãn kinh nhiều năm, bỗng nhiên ra máu không lí do. Lượng máu không nhiều, hơn nữa không kèm theo các triệu chứng đau bụng, đau lưng, thì không được bỏ qua dễ dàng những triệu...
Ung thư cổ tử cung?
[​IMG]
Ung thư cổ tử cung là u ác tính ở đường sinh sản ở nữ giới thường gặp nhất, tỷ lệ mắc bệnh đứng thứ 2 trong số các loại ung thư ở nữ giới. năm 2008 ước tính có khoảng 529800 ca mới mắc Please login or register to view links trên toàn thế giới, và có 255100 ca tử vong, trong đó có 85% các ca bệnh là ở các nước đang phát triển.Lứa tuổi dễ mắc ung thư cổ tử cung là khoảng 50 tuổi, mà bệnh nhân thường là phụ nữ kết hôn sớm, mang thai sớm, sinh nhiều con và nhiễm virut HPV.
Ung thư cổ tử cung có những nguy hại gì?

Ung thư cổ tử cung sẽ trực tiếp dẫn đến đau phần bụng và khoang chậu, chảy máu âm đạo hoặc ra dịch có mùi hôi. Ngoài ra tuỳ vào vị trí tái phát khác nhau mà có những biểu hiện khác nhau như ho, đau ngực, đi tiểu ra máu, chảy máu trực tràng. Bệnh nhân chưa xuất hiện các triệu chứng đi tiểu nhiều, đái dắt và đi tiểu ra máy thì thường bị chẩn đoán nhầm là viêm nhiễm đường tiết niệu và điều trị nhầm, trong trường hợp nghiêm trọng sẽ có thể dẫn đến rò bàng quang âm đạo.
Tử cung nằm ở phần bụng của nữ giới, là cơ quan nằm ở khoảng không giữa bàng quang và trực tràng, mà cổ tử cung là bộ phận khá nhỏ ở phần dưới tử cung. Đầu mở của cổ tử cung thông với âm đạo, chức năng của nó là đường thông của kinh nguyệt chảy ra và cũng là rào chắn vi sinh vật âm đạo và không khí đi vào tử cung, ngoài ra còn cơ thể chống lại những phản ứng viêm nhiễm do kích thích khi sinh hoạt tình dục....
Những biện pháp phòng ngừa HIV/AIDS

Dựa vào đường lây nhiễm HIV, có các biện pháp phòng sau:

Please login or register to view links
(Chung thuỷ một vợ một chồng là một trong những biện pháp phòng ngừa HIV/AIDS)

(Ảnh minh họa)
1. Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường tình dục:
- Sống lành mạnh, chung thuỷ một vợ một chồng và cả hai người đều chưa bị nhiễm HIV. Không quan hệ tình dục bừa bãi.
- Trong trường hợp quan hệ tình dục với một đối tượng chưa rõ có bị nhiễm HIV không, cần phải thực hiện tình dục an toàn để bảo vệ cho bản thân bằng cách sử dụng bao cao su mới (condom, áo mưa, bao kế hoạch) đúng cách.
- Dùng thuốc diệt tinh trùng và HIV: phổ biến là Nonoxynol-9 (Menfagol) được làm dưới dạng kem bôi, viên đặt, hoặc tẩm vào màng xốp, bao cao su.

2. Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường máu:

- Không...
Đang tải...